Số 3

Số 3 – Cái đêm ấy
Hớt hải chạy khắp bến xe Yên Viên, cuối cùng tôi cũng leo được lên xe đi Hưng Yên và yên vị chỗ ngồi. Khi xe chuyển bánh, ba má tôi yên tâm quay về nhà.
Chiếc xe cũ kỹ không kính long sòng sọc lao về phía trước giữa đêm đen chở theo đứa bé gái là tôi với niềm háo hức chưa hề suy suyển.
Nhớ lời mẹ dặn, tôi ôm khư khư vào người túi quần áo trong đó có mẩu giấy xé từ block lịch ghi địa chỉ làng quê nơi tôi sắp đến và bắt đầu gà gật. Tôi giật mình thức giấc khi một tiếng phanh kêu lên đánh “két” và chiếc xe khựng lại. Bác tài mà tôi không nhìn rõ mặt oang oang nói: ” Ai đi Khoái Châu thì xuống đi, đến bến Cây Nhãn rồi!”. Tôi lẽo đẽo theo bác ngồi cạnh và dăm người khác lục tục xuống xe. Lúc đó mới là 2 giờ sáng.
Ngoài trời tối đen như mực và chỉ nghe tiếng chó sủa râm ran. Tối vốn sợ bóng đêm, thực ra là rất sợ ma nên rúm ró hết cả người. Bác đi cùng thấy tôi còn bé lại đi một mình nên dắt tôi vào quán nước mái lợp rạ ven đường và xin bà chủ quán cho tôi ngồi nhờ đến sáng. Cần phải nói thêm một chút là tại sao tôi lại đi một mình. Con bạn tôi và hai em trai của nó đã về quê ngay từ chiều 16 tháng Tư, tôi đi sau khi đã được bố mẹ đồng ý.
Vào trong quán với ánh sáng nhợt nhạt của ngọn đèn dầu, tôi được bà cụ dắt vào chiếc ổ rơm ở góc quán. Tôi ngả lưng xuống ổ và bắt đầu thiu thiu ngủ. Vừa thiếp đi được một lát, tôi bỗng giật mình hét lên khi bị vật gì ấm và mềm liếm vào bàn chân. Cụ già vội chạy lại dỗ dành tôi, giải thích là tôi đang nằm trong ổ của con mèo nên nó về tìm ổ theo thói quen thôi. Rồi cụ lấy một củ khoai nướng còn ấm bóc vỏ cho tôi ăn.
Lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đêm dài đến vậy. Cứ thế, tôi thổn thức trong tiếng chó sủa rầm rĩ thành đợt và nỗi lo bị mèo liếm cho đến khi trời tờ mờ sáng.
Tôi móc tờ giấy ghi địa chỉ làng xã và tên bà nội bạn tôi ra hỏi cụ bà mà đến lúc này mới thấy rõ gương mặt phúc hậu của cụ cùng hàm răng ăn trầu đen nhức.
Sau khi nghe cụ dặn dò và với củ khoai cụ dúi thêm vào tay, tôi lếch thếch lên đường, trong lòng bắt đầu có tí chút hoang mang.
Cho đến giờ, với tôi, đó là củ khoai ngọt bùi nhất trong đời.
(Còn nữa)

23 Replies to “Số 3”

  1. Nhật ký một chuyến đi sơ tán hay gì thế chị ? đọc hay quá nhưng chưa biết ý tác giả cần nói rõ chị à !

  2. Em đọc cũng nghĩ thế ! Nhưng tại chuyện ko nhắc đến từ đi sơ tán. Nên hỏi lại chị cho chắc !

  3. Đọc một phát, biết liền. Hồi ấy ấn tượng của miền quê ấy là miền ngập nước. Mỗi khi mưa phải lội nước đi học mà hồi đấy mình mới học lớp hai, bé xiu. Mẹ bảo nghỉ học đi nhưng ko nghe, đi học bằng đc. Nơi đây có một con đê uốn lượn quanh co và có rất nhiều củ ấu và bàn trang. Một thời gian khổ

    1. Thời kỳ này là lúc bọn mình đã lớn hơn rồi. Cái thời mày nhắc, tao sẽ viết lại sau. Thời đó còn tuyệt vời hơn nhiều vì đó là những kỷ niệm lần đầu đi sơ tán.

  4. Chắc cụ đó đã khuất núi, Tìm đến con cháu bà cụ đó thắp cho một nén nhang giải tỏa công ơn hay lắm đó;

  5. À, mà em chịu trận hết 12 ngày đêm rồi mới đi sơ tán. Đến ký hiệp định thì lại về

  6. Bom dội thẳng vào làng. Hôm trước thơ mộng như trong bài hát Văn Cao, hôm sau bị san phẳng nhìn thông từ đầu làng tới cuối làng

  7. Chị đúng là người Hà Nội xịn nhé. Làng Tám ở khu vực đuôi cá, gần ga Giáp Bát. Bọn Mỹ ném bom trượt nên làng Tám bị san phẳng. Em xuống hầm kịp và bom ko rơi trúng nên giờ vẫn còn chém gió được đó.

  8. Làng Tám hồi những năm 80-90 vẫn còn những cái ao là hố bom ngày xưa chị ạ. Giờ thành nhà hết rồi

Comments are closed.